Pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

0
83

Pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Khái niệm chấp nhận       

Điều 393 – BLDS Việt Nam 2015 quy định cụ thể về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng như sau:

 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.

Như vậy, để có một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, bên được đề nghị phải bằng cách này hay cách khác chỉ ra “chấp nhận” của mình đối với đề nghị đó. Từ đó, có thể khái quát dấu hiệu chấp nhận một đề nghị giao kết hợp đồng:

         – Có thể là một tuyên bố hoặc cách xử sự khác của người được đề nghị, việc báo nhận đề nghị giao kết hợp đồng hoặc bày tỏ sự quan tâm đến đề nghị đó là không đủ.

         – Việc chấp nhận phải vô điều kiện, nghĩa là:

+ Không phụ thuộc vào các biện pháp khác nhau mà người đưa ra đề nghị phải thực hiện (VD: chấp nhận của chúng tôi phụ thuộc vào chấp nhận cuối cùng từ phía quý công ty)

+ Hoặc người được đề nghị phải thực hiện (VD: Chúng tôi chấp nhận các điều khoản về hợp đồng như đã nếu trong đề nghị của quý công ty và cam kết sẽ trình đề nghị này lên Hội đồng quản trị trong vòng 2 tuần tới”.

         – Sau cùng, chấp nhận không được thay đổi các điều khoản của đề nghị hoặc ít nhất không được thay đổi các điều khoản đó.

 Điều kiện của chấp nhận

         – BLDS Việt Nam 2015 quy định điều kiện bao gồm:

(1)  Chấp nhận phải trên cơ sở đề nghị

(2)  Chấp nhận phải đầy đủ và không có giới hạn

(3)  Chấp nhận phải được đưa tới người đề nghị trong thời hạn trả lời chấp nhận

(4)  Chấp nhận phải phù hợp với hình thức pháp luật quy định

             Một trong những điều kiện quan trọng của chấp nhận đó là: sự tương hợp giữa chấp nhận và đề nghị

         Sự chấp nhận không những thể hiện ý chí muốn giao kết hợp đồng của người được đề nghị với người đưa ra đề nghị mà còn phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng. Để xác định sự phù hợp giữa chấp nhận với đề nghị giao kết hợp đồng, có hai quan điểm được đưa ra:

         Quan điểm thứ nhất cho rằng, chấp nhận giao kết hợp đồng phải là sự chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện các nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng không có bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung nào dù là nhỏ nhất.

         Theo nguyên tắc, chấp nhận phải là hình ảnh phản chiếu của đề nghị giao kết hợp đồng làm cho những khác biệt dù là nhỏ nhất giữa đề nghị.

         Theo Điều 393 BLDS 2015 Việt Nam: “…chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”

         Nhận xét: Quy định này dường như áp dụng nguyên tắc “ảnh qua gương” một cách máy móc và điều này dẫn đến sự không hợp lý vì do quy định này dẫn đến việc hiểu là mọi thay đổi, cho dù là nhỏ, không làm thay đổi cơ bản các điều khoản của hợp đồng và không mang tính chất quyết định việc các bên xác lập hợp đồng cũng được xem là không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và đưa ra một đề nghị mới.

                 Quan điểm thứ hai lại coi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự chấp nhận toàn bộ các nội dung chủ yếu của đề nghị giao kết hợp đồng và có thể đưa ra những sửa đổi, bổ sung nhưng không làm ảnh hưởng đến những nội dung cơ bản, chủ yếu của đề nghị giao kết hợp đồng. Bất kỳ sự bổ sung nào cũng phải nêu rõ lý do và không vấp phải sự phản đối ngay lập tức của bên đưa ra đề nghị.

         Đây là một quy định tiến bộ, gần gũi với nguyên tắc thiện chí và sự hợp tác. Tuy nhiên, người ta không thể xác định một cách trừu tượng khái niệm thay đổi “cơ bản”, mà phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp cụ thể. Do đó, pháp luật cần phải xác nhận điều kiện chủ yếu của hợp đồng, hoặc phải dành cho tòa án/thẩm phán quyền xác định thế nào là làm thay đổi cơ bản các điều kiện của đề nghị cụ thể.

Hiệu lực của chấp nhận

Chấp nhận đề nghị là giao kết hợp đồng. Hợp đồng được giao kết là hậu quả pháp lý mấu chốt của chấp nhận. Nói cách khác, đó chính là điểm mấu chốt của hiệu lực của chấp nhận. Thời điểm chấp nhận có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận.

Thời hạn chấp nhận 

Điều 394 – Khoản 1 BLDS 2015 quy định

“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”.

       

>>>> Xem thêm: Tư vấn thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.